Bệnh vẩy nến Nguyên nhân phòng tránh và điều trị
Bệnh vẩy nến chiếm 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám Da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.
Nguyên nhân
Bệnh vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:
Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
Nhiễm khuẩn: Vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
Thuốc: Bệnh Vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).
Nhận diện
Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dầy màu trắng. Khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dầy lên so với trước đây.
Bệnh vẩy nến ở móng: Móng dầy hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng.
Bệnh vẩy nến ở khớp: Các khớp bị biến dạng, bệnh nhân khó vận động.
Bệnh vẩy nến thể mủ: Trên da có các mụn mủ khô và nông.
Bệnh vẩy nến thể đỏ da toàn than.
Những điều cần tránh
Nhìn vào 5 yếu tố làm nên cơ chế sinh bệnh mà ta phải:
Tránh căng thẳng (stress)
Tránh kì cọ và bóc da (hiện tượng Kobner)
Cẩn thẩn khi dùng thuốc nếu mắc thêm các bệnh về tim mạch.
Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
Tránh rượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương kị với các thuốc điều trị.
Nên lạc quan với bệnh tật: do bệnh lành tính và phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả hơn. Hãy tin tưởng rằng trong tương lai không xa Bệnh Vẩy nến sẽ có các đột phá mới.
Điều trị tại chỗ
Dùng các loại mỡ, kem, dung dịch với mục đích bong vẩy, tiêu sừng, hạn chế hình thành nhanh chóng vẩy da như:
Mỡ Salicyle 5%, 10% ,Vitamin D3 và dẫn chất ,Goudron
Điều trị toàn thân
Acitretine: (Soriatane) .Cyclosporin: (Neoral) .Methotrexate
Quang trị liệu: UVB phổ hẹp(UVBTL01).Quang hóa trị liệu: PUVA .Một số thuốc mới gần đây đang được nhiều BS điều trị Bệnh vẩy nến đó là Thuốc chữa bệnh vẩy nến Ayuderme và Kliquidclorophyl-A cho hiệu quả rát tốt và độ an toàn cao
Các bạn có thể tham khảo kỹ hơn trên
Website chuyên nghành thuốc và biệt dược::Thuốc chữa bệnh - http://thuocchuabenh.com.vn
Cần tham khảo ý kiến BS . Tuyệt đối Không tự ý mua thuốc về điều trị
SG Tháng 12 năm 2013 TSThiên Quang ĐT 0972 690 610
![]()
Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014
Bệnh vẩy nến thể mủ Nguyên nhân và điều trị
Thuốc chữa bệnh Vẩy nến á sừng Ayuderme
AYUDERME thuốc chữa bệnh Vẩy nến
Bệnh tự miễn (autoimmune disease): là tình trạng hệ miễn dịch sản sinh ra kháng thể tự sinh (Auto-Antibody) và tấn công vào các tế bào của chính cơ thể mình. Bệnh gây tử vong đứng hàng thứ 3, chỉ sau các bệnh tim mạch và ung thư.
Đây là bệnh rất phức tạp, mang tính chất hệ thống, nó ảnh hưởng tới hầu hết các cơ quan trong cơ thể, bao gồm nhiều bệnh như lupus đỏ hệ thống, xơ cứng bì, vảy nến, đa xơ cứng, bạch biến,... Trong đó, Luput ban đỏ và bệnh Vẩy nến là hai trong số các bệnh tự miễn hệ thống điển hình nhất.
Bệnh nhân bị Luput ban đỏ (SLE- systemic lupus erythematosus) có biểu hiện như nổi ban hình cánh bướm ở mặt, viêm da, viêm mao mạch, loét miệng, rối loạn thần kinh, viêm thận, rụng tóc,… Theo Bách khoa thư bệnh học: Trên thế giới, lupus đỏ hệ thống phổ biến ở phụ nữ độ tuổi từ 15-25; Tại Việt Nam, tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh này chiếm khoảng 90-95% số ca bệnh lupus. Trong giai đoạn bệnh toàn phát, có thể xuất hiện các tổn thương như tràn dịch màng tim, phổi, viêm thận, co giật, thiếu máu…
Cũng thuộc nhóm bệnh tự miễn, bệnh Vẩy nến: là tình trạng rối loạn tăng sinh tế bào da, rút ngắn chu kỳ tế bào. Theo Bách khoa thư bệnh học, bệnh xảy ra nhiều nơi trên thế giới, chiếm 4-8% trong tổng số bệnh nhân nội trú, thường ởđộ tuổi 18-40, với các triệu chứng như thương tổn vùng da đầu, khuỷu tay, đầu gối, bụng,… đó là lớp vảy màu trắng đục, hơi bóng, gây ngứa, nếu cạo sẽ ra bột trắng như nến. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể biến chứng thành vảy nến ung thư hóa, đỏ da toàn thân, viêm đa khớp, vảy nến mụn mủ,… gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Theo những nghiên cứu mới nhất:
có 2 yếu tố cơ bản gây ra : thiếu hụt thông tin tế bào và mất cân bằng miễn dịch. Thông tin tế bào được quy định bởi các phân tử Carbohydrates (Cell Marker - dấu hiệu chỉđiểm tế bào) khu trú trên bề mặt tế bào, cho phép các tế bào tương tác và trao đổi thông tin với nhau. Tế bào nào không có Cell Marker bị coi là lạ và hệ miễn dịch sẽ tấn công chúng. Bệnh tự miễn xuất hiện khi hệ miễn dịch bị suy yếu hoặc khi tế bào của cơ thể bị thoái hóa. Vì vậy, vấn đề cốt lõi trong điều trị các bệnh tự miễn nói chung và lupus đỏ hệ thống, vảy nến nói riêng là cần tăng cường trao đổi thông tin giữa các tế bào để hệ miễn dịch không nhận diện nhầm tế bào có ích.
Hiện nay, việc điều trị các bênh tự miễn gặp rất nhiều khó khăn. Đối với Luput ban đỏ và bệnh Vẩy nến, các bác sĩ không có nhiều lựa chọn ngoài việc dùng Corticoid nhằm ức chế miễn dịch và một số thuốc điều trị triệu chứng khác như nhóm giảm đau không steroid. Việc dùng Corticoid trong thời gian dài sẽ kèm theo rất nhiều tác dụng không mong muốn như: hội chứng Cushing (cơ thể bị sưng phù do tích nước), xuất huyết tiêu hóa, dễ nhiễm khuẩn, suy tuyến thượng thận, đục thủy tinh thể….Điều trị bệnh tự miễn đòi hỏi liệu trình lâu dài và luôn phải kiểm soát tai biến do dùng thuốc. Các thuốc Tây y hiện nay dù cũ hay mới cũng chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời.
Một sản phẩm an toàn, ít tác dụng phụ, giúp tăng cường trao đổi thông tin giữa các tế bào, hỗ trợđiều trị, phòng ngừa căn nguyên của các bệnh tự miễn nói chung và lupus đỏ hệ thống, bệnh Vẩy nến nói riêng là rất cần thiết .
AYUDERME .Một bước đột phá mới trong điều trị bệnh Tự miễn
CÔNG DỤNG
- Tăng cường năng lượng cho tế bào, hỗ trợ phục hồi và điều hoà hệ miễn dịch của cơ thể.
- Điều trị và ngăn ngừa các bệnh tự miễn như: lupus ban đỏ hệ thống, bệnh Vẩy nến, xơ cứng bì rải rác,Bệnh phát ban mãn tính, lở ngứa, tổ đỉa ,giang mai, viêm khớp dạng thấp…
Thành phần bao gồm các loại dược thảo sau:.
Cao Me Rừng: lọc máu, làm trẻ lại. chữa trị các bệnh phổi, tiểu đường, viêm đau thận, gan, hoa liễu, đậu mùa. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiều hợp chất chiết xuất từ me có hoạt tính chống vi sinh vật gây bệnh như virus viêm gan B, vi khuẩn, nấm..., đồng thời có khả năng giải độc, chống suy giảm miễn dịch, ức chế enzyme sao chép virus HIV-1.
Xuyên Tâm Liên:thanh nhiệt và giải độc, trừ thấp-tác dụng kháng viêm, thải độc, nâng cao sức đề kháng, kháng vi khuẩn và virus. Chữa lở ngứa, rôm sảy,Mụn nhọt sưng tấy, nhiễm trùng ngoài da, Chống viêm da.
Nghệ:Nghệ được dùng để điều trị trong các trường hợp bị đòn ngã tổn thương ứ máu, viêm loét dạ dày, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da làm lành vết thương và các vết dãn da Chống viêm da, lọc máu, kháng khuẩn, điều hoà miễn dịch.
Cao Sầu Đâu.tác dụng kỳ diệu của lá sầu đâu đã được người Ấn Độ ứng dụng từ xa xưa để làm thuốc chống viêm, chống ung thư, kháng khuẩn, kháng nấm, chữa các bệnh mụn trứng cá, ghẻ, eczema, ngứa, các bệnh phát ban mãn tính khác. Ngoài ra nó còn có tác dụng chống oxy hóa tế bào và kháng các tác nhân gây đột biến gen hoặc ung thư...
Các nước Ấn Độ, Mỹ, Hà Lan, Nhật... đã điều chế sản xuất từ lá sầu đâu thành các dạng thuốc uống, thuốc viên, chữa ghẻ, mụn nhọt, lang ben, hắc lào, sát khuẩn ngoài da, hoặc trị các vết thương làm độc, ung mủ, các vết loét của phong hủi. Nước sắc của cây còn dùng để chữa viêm nha chu, viêm nướu, sâu răng, chữa viêm cơ, viêm khớp. Dùng ngoài đắp lên các ápxe, bướu ác tính, trĩ hoặc các vết thương do rắn, rết cắn.
Thổ Phục Linh Trung Quốc:dùng để chữa tê thấp, đau mỏi, tiêu hóa kém, viêm thận, viêm bàng quang, lở ngứa, giang mai, viêm da mủ, giải độc thủy ngân và bạc, eczema (chàm) Chống viêm, lọc máu, kháng khuẩn.và một số bệnh ung thư
Swertia Chirata: Chống viêm, lọc máu.tăng khả năng miễn dịch
Posoralea Coryfolia Extract: Chống nấm, kháng khuẩn, chống viêm da ,điều hòa miễn dịch
Picrorhiza Kurroa:tác dụng tái đạt và cân bằng sức khỏe đã bị mất do rối loạn các bộ phận chức năng của cơ thể. Kích thích hệ thống bảo vệ cơ thể, chống stress, chống viêm nhiễm và kích thích hệ thống miễn dịch, tăng cường sinh dục. Chống viêm da, dị ứng da
Hemidesmus Indicus: Lọc máu,giải độc tiêu viêm ,chống viêm da, làm trẻ lại
Thủy Xương Hồ: Dùng trị trúng phong hôn mê, đau nhức khớp xương do phong thấp, đau răng, tiêu hoá không bình thường, đau bụng, ỉa chảy, Thủy thũng, lỵ, ghẻ nấm Chông viêm da, lọc máu, làm trẻ lại.
Cao Nhọ Nồi:Thuốc bổ máu, cầm máu bên trong và bên ngoài, chữa ho ra máu, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam. Còn dùng chữa ban sởi, bệnh nấm ở da, làm thuốc mọc tóc (sắc uống hoặc ngâm vào dầu dừa mà bôi) và nhuộm tóc. Chống viêm da. Dùng Chữa mềđay
Alstonia Scholaris Extract: Có tác dung lọc máu.
Cao Vỏ Cau: Làm se, lọc máu, chống viêm. Dùng để chưã các bệnh về mồm và lợi, vòm miệng và lưỡi, bệnh ngứa sần (các bệnh ngứa da mãn tính), các bệnh về da, loét da, bị thương.
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản:Người lớn uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên. Bảo quản nơi khô mát dưới 250C, xa tầm tay trẻ em.
Thời hạn sử dụng: 02 năm kể từ ngày sản xuất, thời hạn sử dụng được ghi ở cạnh nhỏ bề mặt phía dưới của hộp nhãn
Chất liệu bao bì và cách quy gói: Chất liệu bao bì: vỉ nhôm, hộp giấy, màng mỏng PE. Quy cách đóng gói: 10 viên/ vỉ; 6 vỉ/ hộp. Khối lượng tịnh 440 mg/ viên.
Sản phẩm nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Phân phối bởi Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Tư vấn sản phẩm Ts.Thienquang: ĐT :097.690.610
Tham khảo thêm tại các website chuyên nghành sau :
Website Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 : Thạc sỹ BS Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai - HBT– HN
Sản Phẩm bán tại Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC NẾU BN CÓ YÊU CẦU
![]()
![]()
Bệnh Vẩy Nến ,Thuốc chữa bệnh vẩy nến
Bệnh Vẩy Nến ,Thuốc chữa bệnh vẩy nến
Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì . Là do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.
Vẩy Nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper. Các tế bào T bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào T sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.
Triệu chứng cua :Bệnh Vẩy Nến
Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
- Vẩy Nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
- Vẩy Nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
- Vẩy Nến mủ với bóng nước chứa mủ.
- Vẩy Nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
- Vẩy Nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Xác Định :Bệnh Vẩy Nến
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Điều trị:là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Điều trị tại chỗ bạn có thể tắm gội bằng Sastid hoặc Polytar. Bôi mỡ Salicylé 5% hoặc mỡ BenzoSaly vào tổn thương có nhiều vẩy. Nếu tổn thương bớt vảy hoặc hết vảy thì bạn có thể bôi các chế phẩm có chứa steroid như Temprosone, Flucinar, Synalar, Fucicort, Diprosalic…Song song là điều trị toàn thân khi bệnh trong giai đoạn bùng phát thì bạn nên dùng một đợt kháng sinh như Ampicilline hoặc Rovamycin. Có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
Các phương thức điều trị đó là:
1- Thuốc thoa ngoài da:
Thuốc chữa bệnh vẩy nến :Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
a-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
b-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
- Thuốc an thần, trấn tĩnh: nên dùng các thuốc có tác dụng an thần nhẹ, trấn tĩnh. Tuy nhiên nhóm thuốc này thường gây quen thuốc nên sử dụng cần thận trọng.
3 - Dược phẩm - Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
a- Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
b- Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
c- Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
Giới thiêu Thuốc chữa bệnh vẩy nến tốt nhất :Kliquidclorophyll-A
-Kliquidclorophyl-A ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm, kích thích việc phục hồi các mô đã bị hư hại, trị - Bệnh Vẩy Nến vô cùng hiệu nghiệm, kết quả thật nhanh chóng không ngờ.Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh nhân đã được chữa dứt bệnh vẩy nến trong vòng 30 ngày đến 90 ngày (với trường hợp nặng nhất ).Chlorophyll giúp thải độc cho gan,lọc máu, tiêu diệt nấm và vi khuẩn trên da giúp cho da nhanh chóng phục hồi các tổ chức mô . Kết hợp với :Diposalic,Glovate hoặc Flucinar bôi ngoài hiệu quả đáp ứng càng cao. Tại nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Pháp …) và FDA tại Mỹ coi chlorophyll và chlorophyllin như một thực phẩm-thuốc an toàn, không có giới hạn về liều lượng uống (Báo cáo của FAO-WHO số 557, năm 1974).
-Kliquidclorophyl-A đã được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị các bệnh thoái hoá da,Viêm da, nhiễm trùng da, tăng huyết áp, tiểu đường, alzhermer,vẩy nến , á sùng …
Các lợi điểm chính của việc sử dụng chlorophyllin:
- Nguồn gốc tự nhiên, có thể sử dụng lâu dài, không có tác dụng phụ và không tương tác với các thuốc khác.
- Ức chế sự phát triển của các vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn kỵ khí (có nhiều trong đường tiêu hoá và khoang miệng, mảng bám răng,các lớp tế bào da bị chết) các vi khuẩn này bị ức chế bởi oxy được sinh ra từ chlorophyllin. Chất diệp lục còn có khả năng sát khuẩn, khử mùi trong các vết thương, vết loét. Năm 1948, cố DS. Đỗ Tất Lợi là người đầu tiên sử dụng chất diệp lục chiết suất từ cây xanh vào mục đích chữa trị các vết thương nhiễm trùng.Các vết lở loét ngoài da cho bộ đội.
Hướng dẫn sử dụng: Ngày uống từ 1 đến 3 lần, mỗi lẫn pha 1 thìa dung dịch vào 250 ml nước, lắc kỹ trước khi sử dụng .
Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 2050/2006/YT-CNTC
Sản phẩm nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Phân phối bởi Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Tư vấn sản phẩm Ts.Thienquang: ĐT :097.690.610
Tham khảo thêm tại các website chuyên nghành sau :
Website Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 : Thạc sỹ BS Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai - HBT– HN
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC NẾU BN CÓ YÊU CẦU
![]()
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)